return to datviet.com

  Mở Tắt
Truyện Dài
Nữ Công Gia Chánh
Thơ Tình
Truyện Ngắn
Lời Nhạc Việt
Sử Việt
Truyện Kiếm Hiệp
Bài Viết
Mẹo Vặt
Kiến Thức
Truyện Cười
Truyện Cổ Tích
Y Dược Viện
Khoa Học - Vi Tính
Bạn Gái Làm Đẹp
PhongTục Tập Quán
Tìm Hiểu Võ Thuật
Thơ của Thành Viên
 
 
 

Cây Vông nem
Tác Giả: Sưu Tầm
Cây Vông nem

Cây Vông nem hay còn gọi là cây lá vông (tên khoa học là Erythrina variegata L.), thuộc họ Đậu. Vông nem là loài phân bố rộng từ Đông châu đến Phi châu nhiệt đới. Ơ' A' châu loài này phổ biến ở Â'n Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaisia, Indonesia, Philippin. Thường gặp trong các bụi dọc bờ biển, lân cận với các rừng ngập mặn và trong rừng thưa, nhiều nơi ở nước ta. Cũng thường được trồng làm cây bóng mát ở các khu dân cư. Người ta thu hái lá vào mùa xuân, chọn lá bánh tẻ, dùng tươi hay phơi khô; thu hái vỏ cây quanh năm.
Vông nem có thân cây to cao đến 10m, vỏ xanh rồi chuyển dần sang nâu, có nhiều gai ngắn . Lá mọc so le, có ba lá chét hình tam giác. Vào tháng 3-5, sau khi lá rụng, cây ra hoa. Chùm hoa dày gồm nhiều hoa màu đỏ chói. Quả đậu không lông, có eo giữa các hạt. Hạt vông nem hình thận, màu nâu. Vỏ và lá vông nem là hai phần thường được sử dụng. Vỏ vông nem còn được gọi là Hải đồng bì. Vỏ cây có tác dụng khu phong thông lạc, sát trùng, làm tê liệt, trấn tĩnh.Trong lá và hoa vông nem có một alcaloid là erythrin, có độc. Chất này có tác dụng làm giảm và có khi làm mất hẳn hoạt động thần kinh trung ương, tuy nhiên không ảnh hưởng đến sự kích thích vận động và sự co bóp của cơ. Còn chất sanopin gọi là migarin làm dãn đồng tử. Trong hạt có alcaloid gọi là hypophorin có tác dụng tăng phản xạ kích thích đưa đến sự co giật, uốn ván. Lá vông nem có vị đắng nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm an thần, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, co bóp các cơ. ông y cho là nó còn có tác dụng sát trùng, tiêu tích, trừ phong thấp.Vông nem thường dùng chữa tim hay hồi hộp, ít ngủ hoặc mất ngủ, trẻ em cam tích, viêm ruột ỉa chảy, kiết lỵ, viêm da, lở chảy nước, phong thấp, chân tê phù, ung độc. Ngày dùng 4-6g, dạng thuốc sắc. Cách dùng cũng rất đơn giản: để làm thuốc an thần có thể phối hợp với Lạc tiên, lá Dâu, tâm sen. Để chữa bệnh trĩ thì dùng lá tươi xào với trứng gà ăn rồi dùng lá trà giã ra, nướng nóng đắp vào hậu môn. Để chữa vết thương, dùng lá tươi nấu nước rửa và lá khô tán bột rắc.
Một vài đơn thuốc thông dụng khác dùng vỏ vông nem như:
1. Trị phong thấp: vỏ vông nem, vỏ chân chim, kê huyết đằng, phòng kỷ, ý dĩ sao, ngưu tất, mỗi vị 15g, sắc uống.
2. Sau khi sinh, máu xấu đưa lên choáng đầu, mờ mắt: vỏ cây vông nem già, lá mần tưới, cỏ màu chầu, ngưu tất, mỗi vị 10-15g, sắc uống.

Tìm Bài Viết Cùng Tác Giả
Người Gởi:

Copyright 1999 by Khoa Phan. www.datviet.com